Chương 2: Xuống núi (2)

Edit & Beta: DK

Tạ Phùng Thù phản ứng thật nhanh, quay đầu nhìn về phía Minh Kha nói: “Nhìn ngươi xem, sớm bảo ngươi ăn ít những thứ này thôi.”

Hắn làm ra tư thế của tiên quân, một bộ hết cách lại quan tâm dáng dấp. Minh Kha hận không thể nhảy lên bóp cổ Tạ Phùng Thù, mà trước mắt đồ vô sỉ này dù sao cũng là tiên quân của hắn, hắn là tiên đồng biết quy củ, đành phải chịu nhục đáp: “Biết đến, tiên quân.”

Không biết Bùi Ngọc có tin hay không, chỉ thấy hắn cười lạnh một tiếng, ném vỏ dưa trong tay trở lại, nói: “Vậy thì không quấy rầy Lăng Hành tiên quân tu hành nữa.”

Hắn dừng một chút, liền lạnh lùng nói: “Bây giờ thời cuộc nguy hiểm, tiên quân nào phép thuật không cao chớ nên xuất môn tránh gặp nguy hiểm.”

Trong lòng Tạ Phùng Thù đã sớm lôi người này đánh hàng trăm, ngàn lần, nhưng ngoài mặt vẫn mang theo ý cười gật đầu: “Không tiễn.”

Chờ thân ảnh hai người xa dần, Minh Kha đột nhiên nhào tới bên người Tạ Phùng Thù, cả giận nói: “Ai ăn vặt, ngài nói cho rõ ràng!”

“Tình thế bức bách, ta sai rồi ta sai rồi.” Tạ Phùng Thù vừa xin tha vừa kéo người đang bám xuống, “Chờ ta trở lại mang cho ngươi kẹo đường hình người được chưa, rồi kiếm cho ngươi vài món đồ chơi mới mẻ.”

Minh Kha nổi giận đùng đùng: “Ai muốn kẹo đường hình người và —— “

Hắn mới nói được một nửa thì phát hiện không đúng, bỗng nhiên ngẩng đầu: “Ngài phải xuống núi? !”

“Thiên đình gặp nạn, bản tiên quân há có thể ngồi xem không quản.” Tạ Phùng Thù nghĩa chính từ nghiêm, “Ngươi trông coi tốt Vô Minh sơn, chờ ta trở về, bản tiên quân muốn hạ phàm thay trời hành đạo.”

Minh Kha nhíu mày, mặt nhăn thành một nhúm: “Phù Quang tiên quân nói không thể ra ngoài.”

Tạ Phùng Thù không nhịn được vươn tay xoa xoa khuôn mặt nhỏ thó của hắn: “Hắn nói là những tiên quân phép thuật không cao, phép thuật của ta không cao sao?”

Hắn làm bộ không nhìn thấy vẻ mặt xem thường của Minh Kha, thu tay về ho nhẹ một tiếng: “Tóm lại ngươi phải ngoan ngoãn bảo vệ tốt tiên sơn này, không được chạy loạn, bây giờ không thể so với trước đây, cẩn thận bị yêu quái ăn thịt.”

Minh Kha không hề bị lay động, chỉ “hừ” một tiếng, cùng Tạ Phùng Thù đi qua sân trước, đến tận trước cửa núi.

Phía trước biển mây dập dềnh, thân thể Tạ Phùng Thù nửa ẩn nửa hiện. Mắt thấy hắn thật sự phải đi, Minh Kha mới đi lên phía trước hai bước, nhăn nhó nửa ngày, nhỏ giọng nói: “Vậy ngài nhớ trở về sớm một chút.”

Tạ Phùng Thù quay đầu, cách tầng tầng sương mù lộ ra một chút ý cười, trịnh trọng đáp lại: “Biết đến.”

Nói xong, Tạ Phùng Thù khẽ nhíu mày: “Đông Ngung —— “

Nơi hắn vừa nói chính là chỗ mà Ty Mệnh thiên quân bị tập kích. Minh Kha thấy thần sắc hắn hoang mang, vểnh tai lên muốn nghe xem hắn nhớ ra điều gì, tiếp đó liền nghe thấy Tạ Phùng Thù tự mình lẩm bẩm: “Đi hướng nào đây?”

… …

Ánh mắt khinh thường của Minh Kha cuối cùng vẫn phải xuất hiện.

Lấy đức hạnh này, còn đòi thay trời hành đạo, trời biết cũng phải bật khóc.

*

Tạ Phùng Thù ngoài miệng nói như vậy, thực tế vì bị kích thích bởi bộ dạng ngạo thế khinh thường của Phù Quang Quân Bùi Ngọc, thật sự là làm cho người ta chán ghét vô cùng. Thêm vào đó từ khi hắn tự phi thăng tới nay luôn ở Vô Minh Sơn, đã sớm buồn chán, có thể tìm về Mệnh Bàn là tốt nhất, nếu tìm không được, coi như đi nhân gian rèn luyện .

Khác với biểm Nam Minh, Đông Ngung được núi bao bọc, kéo dài không dứt. Nơi nơi đều là um tùm dây leo cổ mộc, tứ phía đều là núi, kéo dài vạn trượng. Bởi vì đã là ngày đông, cây trên núi đều khoác tấm áo tuyết mỏng, đưa mắt nhìn khắp nơi đều là màu trắng xoá, chỉ có vài chỗ thoáng lộ ra một chút xanh thẫm của cây tùng.

Tạ Phùng Thù nhìn quần sơn trước mặt, hận không thể quay đầu bỏ đi.

Bàng Nguyên Tử chỉ nói Ty Mệnh tiên quân làm mất Tinh La Mệnh Bàn ở Đông Ngung, lại không nói rõ đến tột cùng làm mất ở chỗ nào, chẳng lẽ hắn phải đi tìm từng ngọn núi?

—— Đúng là hắn rảnh quá sinh nông nổi mà, Tạ Phùng Thù ngẩng đầu nhìn sắc trời.

Thời điểm hắn ra khỏi cửa không tính là sớm, thêm vào đó Nam Minh cách Đông Ngung cũng phải đến mười vạn dặm, dọc theo đường đi hắn đông du tây dạo, mặc dù cưỡi gió mà đến, vẫn chậm chân một chút, đến đây trời đã tối, trăng đã ló dạng.

Tạ Phùng Thù thở dài một hơi —— thôi, bản thân vẫn nên tìm chỗ nghỉ ngơi trước đã.

Hắn chậm rãi đi về phía trước, quay đầu quan sát bốn phía.

Núi ở Đông Ngung nhiều rừng rậm, hoang vu không người ở. Mấy ngày trước vừa mới hạ xuống trận tuyết lớn, trên cây đều phủ kín tuyết, dưới mặt đất tuyết đọng dầy khoảng chừng một ngón tay, Tạ Phùng Thù giẫm lên, thỉnh thoảng còn có thể nghe thấy tiếng lạo xạo cành cây bị giẫm trên nền tuyết.

Dạ hắc phong cao, thích hợp làm chuyện ma quái.

Sau một khắc Tạ Phùng Thù nghe được tiếng trẻ con khóc, càng vững tin vào câu nói này.

Tiếng khóc đứt quãng truyền đến từ phía bên trái, hơi có chút chói tai, còn kèm theo tiếng một người phụ nữ tự lẩm bẩm, hơn nửa đêm vang lên trong rừng này có chút đáng sợ.

Tạ Phùng Thù không sợ nó đến, chỉ sợ nó không đến, lập tức hướng tiếng khóc đi tới.

Hắn đi mấy chục bước, tiếng khóc trong nháy mắt tiêu thất, tiếp tục đi về phía trước, trên mặt tuyết bỗng xuất hiện một người phụ nữ mặc đồ đỏ.

Đối phương y phục đỏ thẫm, trang dung diễm lệ, đứng trong tuyết thực sự có chút chói mắt, thế nhưng sắc mặt nàng trắng bệch, nước mắt tràn mi.

Ngẩng đầu nhìn thấy Tạ Phùng Thù, đối phương từ trong tuyết thoáng ngồi dậy, mở miệng nói: “Vị công tử này, có từng nhìn thấy con trai của ta?”

Hơn nửa đêm, một mình ở nơi thâm sơn biển tuyết tìm hài tử?

Nàng ngữ điệu như khóc như kể, nghe tới điềm đạm đáng yêu, thế nhưng Tạ Phùng Thù đã phi thăng thành tiên, thiên nhãn đã mở, rõ ràng đã thấy trên người đối phương tràn ngập ma khí.

“Chưa từng thấy.”

Đối phương tiến lên vài bước đến trước mặt Tạ Phùng Thù, nhẹ giọng nói: “Tiểu nhi ngoan bướng, không biết chạy đi nơi nào, có thể làm phiền công tử giúp ta tìm một chút?”

Tiếng trẻ con khóc ban nãy truyền đến từ nơi này, Tạ Phùng Thù cố gắng nhớ lại bản thân khi nhàn hạ ở Vô Minh xem qua điển tịch trong sách tiên, muốn biết đây rốt là tai họa gì, nhưng đáng tiếc nửa ngày cũng không nhớ ra được.

Hầy, thường ngày quả thực không nên lười biếng.

Phụ nhân trước mắt vẫn còn đang đợi hắn trả lời, tay Tạ Phùng Thù khẽ đè lại thanh kiếm bên ngươi, nhíu mày nở nụ cười.

“Đúng dịp, ta cũng có một thứ làm mất, xin hỏi cô nương có nhìn thấy không?”

Đối phương nâng mắt, chờ Tạ Phùng Thù nói tiếp. Tạ Phùng Thù tiếp lời: “Một chiếc mệnh bàn màu đen.”

Khuôn mặt đối phương bỗng lạnh xuống, ngữ điệu kéo dài nói: “Thì ra là tiên quân.”

Trên mặt nàng còn mang theo nước mắt, lại nhìn Tạ Phùng Thù nở nụ cười quái dị, lộ ra hàm răng sắc nhọn, cùng lúc đó, tiếng trẻ con khóc thê thảm lần thứ hai vang lên.

Mi tâm Tạ Phùng Thù khẽ động, phát hiện tiếng khóc nỉ non kia phát ra từ bụng cô gái.

Ánh mắt hắn rơi xuống eo đối phương, sau một khắc, Tạ Phùng Thù liền nhìn thấy một cánh tay đẫm máu vươn ra từ bụng nữ nhân, ngay sau đó là phần đầu và thân ướt nhẹp.

Tiếng khóc càng lúc càng rõ ràng, chỉ trong chốc lát, một đứa trẻ phá vỡ bụng nữ nhân, trực tiếp chui ra, ghé vào bên hông người đó nhìn chung quanh.

Phụ nhân kia tựa hồ không cảm nhận được đau đơn, tiến sát đến bên Tạ Phùng Thù. Đứa trẻ mới sinh ở bên cạnh nhìn một vòng, bắt gặp Tạ Phùng Thù, tiếng khóc ngừng lại, ngửa đầu phát ra cười khằng khặc quái dị với Tạ Phùng Thù.

Cả người nó đều là ma khí, tiếng cười thô khàn khó nghe, chói tai như tiếng kiếm ma sát vào sắt.

Tạ Phùng Thù thấy thế bỗng nhiên tỉnh ngộ kêu một tiếng: “A! !”

Một tiếng này của hắn vừa phát ra, một lớn một nhỏ trước mắt dường như cũng bị âm thanh này dọa sợ, dừng tại chỗ nhìn về phía Tạ Phùng Thù, biểu tình có chút không hiểu vì sao.

Tạ Phùng Thù nhìn hai yêu vật trước mặt, rốt cục nhớ ra tên gọi của chúng.

“Tử mẫu quỷ.”

Nói xong hắn tiếp tục suy nghĩ, lại có chút không xác định mà nghiêng đầu, hỏi nữ quỷ kia: “Có đúng không?”

Đối phương đại khái cảm thấy như mình bị lừa gạt, phẫn nộ quát một tiếng, một lớn một nhỏ liên thủ đánh tới Tạ Phùng Thù.

Tạ Phùng Thù trong nháy mắt phản ứng rút kiếm ra.

Thanh kiếm của hắn có tên là Phong Uyên, nửa chuôi kiếm được quấn dây đỏ, kiếm cách(1) khắc một đóa hoa sen chín tầng ánh bạc, nửa khép nửa mở, chạm trổ thô lỗ, thoạt nhìn có chút quái lạ. Kiếm dài ba thước, nhưng lưỡi kiếm chỉ rộng chừng một ngón tay, thân kiếm thẳng tắp, trên có khắc mấy dòng Phạn văn. Chỉ có mũi kiếm mang theo một chút độ cong, gọn gàng thu hẹp, ở trong vùng đất hoang vu băng giá lộ ra sự âm u lạnh lẽo.

  • Kiếm cách: hay còn gọi là Tsuba

Tạ Phùng Thù hướng mắt nhìn phụ nhân, thấy đứa trẻ nhào đến bên người, tay trái bỗng biến ra một tấm bùa ném đến, khẽ quát một tiếng: “Đốt.”

Trong khoảnh khắc lá bùa biến thành ngọn lửa cháy hừng hực, giống như mọc thêm mắt bay nhanh về phía tử mẫu quỷ.

Yêu vật kia giống như rất sợ lửa, thật nhanh lui về phía sau, trong miệng còn phát ra tiếng thét dài thê lương. Mà bên này, Tạ Phùng Thù một kiếm chém về phía quỷ mẫu, kiếm ý xé gió mà đi, cuốn lên tầng tầng tuyết đọng, miễn cưỡng doạ lui quỷ mẫu vài bước.

Đối phương định tấn công nhưng không thành, thấy tình thế không ổn, quay đầu chạy sâu vào trong núi.

Tạ Phùng Thù cũng nhanh chóng đuổi theo.

Tuyết đọng trên tán cây bởi vì động tĩnh này mà không ngừng rơi xuống, nhưng biển rừng mênh mông, vật tà ma kia rõ ràng quen thuộc trong rừng này hơn so với hắn, Tạ Phùng Thù cắn răng không biết đuổi bao lâu, khoảng cách càng ngày càng xa.

Cuối cùng người phụ nữ kia quay đầu lại phát ra một tiếng cười dài, kèm theo tiếng trẻ con khóc xé trời, một khắc tiếp liền biến mất trong bóng đêm.

Tạ Phùng Thù bất đắc dĩ ngừng lại, cau mày nhìn quanh một vòng, tạm thời thu hồi kiếm tiếp tục đi về phía trước.

Tạ Phùng Thù vốn nghĩ yêu vật kia có lẽ chỉ ẩn nấp quanh đây thôi, thế nhưng không tìm được. Trình độ nhận biết phương hướng của hắn lại cực kỳ kém, không đầu không đuôi đi qua đi lại nơi đây đã nửa khắc đồng hồ, may tình thế xoay chuyển, ở nơi rừng tùng sâu xa đột nhiên xuất hiện một tòa đình viện.

Tạ Phùng Thù đến gần chút, mượn ánh trăng nhìn lại, trước mắt là một ngôi chùa.

Hắn hơi dừng lại bước chân, cuối cùng đứng cách nơi đó bốn năm trượng.

Ngôi chùa nằm ở sâu trong rừng rậm, tại nơi núi đồi cổ thụ chọc trời vờn quanh thoạt nhìn không hề lớn. Hơi có chút chùa cổ thâm sơn, không vương chút bụi trần. Ngôi chù tường đỏ ngói xám, chắc hẳn đã được xây dựng từ lâu, trước cửa chùa có một gốc cây cổ thụ khổng lồ.

Cổ thụ che trời, thân cây tráng kiện đến doạ người, chiếm giữ cửa chùa, phía trên cành lá cao vót lợp tán rộng cả vào bên trong chùa, cơ hồ che đậy hết nửa ngôi chùa. Tạ Phùng Thù ngẩng đầu nhìn, đập vào mắt là từng tầng màu trắng, dưới ánh trăng phát ra ánh sáng thanh lãnh.

Ban đầu Tạ Phùng Thù còn tưởng rằng sương tuyết phủ lên cây, mãi đến khi có mùi thơm thoang thoảng kéo tới, dưới ánh trăng nhìn kỹ chốc lát, mới phát hiện đó đều là hoa nở.

Đây là một gốc Vạn Cổ Xuân.

Vạn Cổ Xuân tập tính kỳ lạ, tuổi tác càng lâu, thời kỳ nở hoa càng dài. Vạn Cổ Xuân sinh trưởng hơn một nghìn năm có thể nở hoa đến mấy chục năm, hoa sống đến mấy chục thậm trí mấy trăm năm không héo tàn, cho nên có tên gọi là Vạn Cổ Xuân. Hoa nở chín cánh, bởi vì hoa nhiều như tuyết, cánh hoa như cánh sen, lâu dần, trở thành một trong những thánh hoa của Phật giáo.

Cây Vạn Cổ Xuân trước mắt rễ đã cắm sâu dưới lòng đất, phỏng chừng đã sống mấy ngàn năm.

Tạ Phùng Thù thu hồi ánh mắt, bỗng nhìn thấy trước cửa chùa nhiều hơn một thân ảnh.

Thần kinh hắn vốn đang căng thẳng, lập tức để tay lên kiếm, rồi lại miễn cưỡng dừng lại.

Dựa vào ánh trăng, Tạ Phùng Thù thấy rõ người trước mắt.

Đó là một—— hòa thượng.

Đối phương mặc một thân tăng bào thuần trắng, tay phải cầm một cốc đèn cổ xưa, ánh nên mông lung rọi sáng một góc bóng đêm. Cổ tay trái đeo một chuỗi phật châu, ngoài ra không có thêm món đồ dư thừa nào khác, đứng trong đêm tuyết thoạt nhìn có chút thuần khiết đơn bạc.

Nhưng đối phương giống như không cảm thấy lạnh, chỉ đứng ở trước cửa chùa, nghiêng đầu nhìn sang Tạ Phùng Thù.

Không biết y đã đứng đó bao lâu, thần sắc không buồn không vui, ánh mắt rơi xuống trên người Tạ Phùng Thù, thanh lãnh giống như tuyết đọng nơi cao nhất trên núi Đông Ngung, lạnh lẽo đến nỗi khiến Tạ Phùng Thù giật mình.

Tạ Phùng Thù chắp tay chào hỏi, nói: “Vị…”

Hắn dừng một chút, không biết nên xưng hô như thế nào cho thích hợp, cuối cùng chần chờ nói: “Vị tu giả này, có từng nhìn thấy một phụ nhân mặc áo đỏ, còn dẫn theo một đứa trẻ?”

Đối phương không có trả lời, chỉ đứng ở trên bậc thang trước cửa ngôi chùa, xa xa nhìn Tạ Phùng Thù.

Hòa thượng trước mặt trên người không có ma khí, tăng bào dính tuyết cũng không nhiễm một hạt bụi nhỏ, lại càng không biết giá lạnh, chắc hẳn là người đã tu hành lâu trong núi.

Tạ Phùng Thù nghĩ như vậy, đứng từ xa chắp tay, tự giới thiệu.

“Tại hạ Lăng Hành tiên quân, Tạ Phùng Thù.”

Nghe được câu này, chỉ chốc lát sau, hòa thượng nói với Tạ Phùng Thù: “Vào đi.”

Dứt lời, cũng không quản Tạ Phùng Thù nghe thấy hay không, quay người đẩy cửa đi vào.

Tạ Phùng Thù đang lo không nơi nghỉ chân, không quản thái độ đối phương ra sao, cất bước cùng người tiến vào trong chùa.

Hắn đẩy cửa chùa mà vào, đập vào mắt đầu tiên chính là sân chùa phía trước, trong viện đá xanh làm nền, hai bên là rừng trúc xanh rì.

Bên ngoài đất trời ngập tràn băng tuyết, trong miếu mặt đất lại khô ráo, không gặp một chút tuyết đọng. Cách đó không xa là một gian công đường (2), mơ hồ lộ ra ánh sáng mơ hồ.

(2): Nơi để giảng đạo, thuyết pháp

Thấy hòa thượng áo trắng bước chân không ngừng tiến vào công đường, Tạ Phùng Thù dừng một chút, vẫn mặt dày đi vào theo, còn ho nhẹ một tiếng: “Đi ngang qua nơi đây, quấy rầy —— “

Lời còn chưa nói hết, Tạ Phùng Thù nhìn thấy quang cảnh trong điện, theo bản năng thu lại lời định nói.

Gian công đường này rất lớn, cũng rất kỳ quái.

So với những chùa miếu thờ cúng tượng Phật, nơi đây rất khác biệt, bên trong  công đường không có một bức tượng nào. Ngoại trừ hai cánh cửa sổ, còn lại ba mặt tường đều lát bằng đá trắng. So với miếu thờ pháp điện, càng giống như một gian thạch thất.

Nếu như chỉ như vậy thì không nói làm gì —— ba mặt trên vách đá, khắc vô số phù điêu tượng phật.

Phù điêu lồi lõm, Chư Phật khác nhau. Có phật ngồi trên mây cúi đầu, giống như đang bao quát chúng sinh; có nhắm mắt cầm hoa nở nụ cười, một bộ tư thái thiền định; còn có cầm bảo khí chân đạp ác quỷ hung thú, mặt lộ vẻ uy nghiêm, vô cùng oai phong…

Ba mặt đều là tượng phật, hoặc cười hoặc nói hoặc ngồi hoặc nằm, động tác không người nào lặp lại người nào.

Tạ Phùng Thù dù sao cũng đã ở tiên giới đợi mấy trăm năm, nhìn một vòng nhưng có chút nhìn thấu.

Đại Tự Tại Thiên một ngàn phật, Vô Sắc Giới một ngàn phật, Đại Phạn Thiên một ngàn phật ——trên ba mặt tường, khắc tổng cộng ba ngàn thần phật.

Tạ Phùng Thù vốn tưởng rằng ngôi chùa này có chút nghèo nàn, tiến vào mới biết một vùng thế giới khác, ít nhất gian công đường này huyền diệu cực kì.

Mà cả căn phòng ngoại trừ phù điêu, đồ vật nơi đây ít đến đáng thương.

Tạ Phùng Thù thu hồi tầm mắt trên bức tường, nhìn về phía trước.

Đối diện tường trắng có đặt một bàn thờ màu trầm, trước bàn có hai tấm bồ đoàn màu trắng, giữa bàn đặt một chong đèn, chính là cốc đèn mà đối phương cầm trong tay lúc nãy.

Phật đăng (đèn phật) rất nhỏ, ước chừng chỉ dài một ngón tay, toàn thân trắng noãn như ngọc, thân đèn không có bất kỳ trang sức gì, cổ điển mà đơn giản, đui đèn khắc chín cánh hoa sen, ở giữa là ánh lửa lay động, càng khiến căn phòng lộ vẻ hiu quạnh vắng vẻ.

Phật gia cho rằng đèn có thể soi thấu con người, người cầu giải thoát lấy thân làm đế đèn, tâm làm trụ đèn, các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa, có thể chiếu sáng hết thảy vô minh ngu tối*. Vì vậy trước pháp điện ở mỗi ngôi chùa từ trước đến giờ đều đốt đèn, thậm chí hàng trăm hàng ngàn cốc đèn, để cầu xua tan bóng tối, soi rọi ngu si.

Mà trong công đường này ngay cả một nén nhang đều không có cung phụng, chỉ có duy nhất một chiếc đèn này, ánh nến yếu ớt, ở giữa ba ngàn thần phật uy nghi thực sự hoàn toàn không hợp.

Tạ Phùng Thù chỉ cảm thấy từ lúc mình bước chân vào Đông Ngung tới nay khắp nơi đều quái dị, bao gồm cả ngôi chùa ở vùng núi hoang vu này nữa. Người trước mắt đã ngồi xuống đệm hương bố, nhắm mắt một bộ tư thái thiền định.

Thôi, đã đến rồi thì nên ở lại, dù sao cũng là nơi thờ phật, hòa thượng trước mắt này tuy rằng thái độ có chút lãnh đạm, nhưng mà một thân áo sư thiền cốt, không giống như là tai hoạ yêu ma.

Tạ Phùng Thù nghĩ như vậy, dự định ngồi xuống. Mới vừa động một bước, bỗng nhiên nghe thấy một âm thanh trầm thấp gầm thét.

“Giáng Trần, ngươi có biết hối hận?!”

Thanh âm này chẳng khác nào sấm sét, Tạ Phùng Thù đột nhiên không kịp chuẩn bị, giống như con mèo bị dọa, lập tức ngừng lại động tác, nắm chặt chuôi kiếm quay đầu nhìn về nơi phát vừa ra âm thanh.

Hắn vốn tưởng rằng còn có người khác ở đây, thế nhưng nhìn quanh một vòng, trừ hắn và hòa thượng ra ngay cả vật sống đều không có.

Tạ Phùng Thù chần chờ đang định thu hồi ánh mắt, lại nhìn thấy phù điêu trên bức tường bên trái, đầu phật khắc đá cư nhiên chuyển động.

Tượng phật bằng đá kia chỉ cao bằng nửa cánh tay, tay cầm kim cang xử (3), chân đạp hổ trắng, chân trần, nửa thân trên không mặc y phục. Thân thể vẫn là một pho tượng cứng rắn lạnh băng, đầu lại chầm chậm chuyển động, phát ra tiếng “Kèn kẹt” chói tai, đôi mắt bằng đá vẩn đục tái nhợt cũng di động từng chút một, mãi đến tận khi nhìn thấy hòa thượng mặc tăng bào phía trước.

Kim Cang Xử

Đầu tượng đá rốt cục dừng lại, gắt gao nhìn chằm chằm hòa thượng trước mắt, lớn tiếng chất vấn lần nữa: “Giáng Trần, ngươi đã biết hối hận?!”

Tạ Phùng Thù: “…”

Ngay cả trong chùa mà vẫn có quỷ, đây là đạo lý gì vậy?

—–

Tác giả có lời: Dấu (*) là trích từ “Đạt Ma phá tương luận”.